Ong dú ăn mật hoa và phấn hoa. Mật hoa cho đường, tức năng lượng để bay và giữ ấm tổ; phấn hoa cho đạm và chất béo để nuôi ấu trùng và để chúa đẻ. Ngoài hai thứ ăn đó, đàn còn cần nhựa cây để trộn với sáp làm keo xây tổ, và cần nước vào mùa khô. Đứng ở cửa tổ vài phút có thể nhìn thấy ong mang về từng thứ.
Mật hoa là dịch ngọt trong hoa, phần lớn là nước và đường. Ong thợ hút mật hoa vào diều, một túi nằm trước dạ dày, bay về tổ rồi nhả vào các bầu mật bằng sáp-keo. Trong tổ, ong làm bay bớt nước và trộn thêm men tiêu hoá, mật hoa dần thành mật ong dú. So với ong mật, mật ong dú thường loãng hơn, chua nhẹ, vì ong dú không cô mật đặc bằng ong mật và trong bầu mật có sẵn vi sinh vật lên men nhẹ.
Năng lượng từ mật dùng cho mọi việc: bay đi kiếm ăn, quạt cánh làm mát tổ, run cơ ngực sưởi ấm tổ ngày lạnh, tiết sáp. Đàn thiếu mật thì việc đầu tiên bị cắt là nuôi con: chúa đẻ ít đi, ấu trùng ít đi, nửa tháng sau đàn mỏng hẳn.
Ong dú nhỏ, vòi ngắn, nên thích hoa nhỏ, nông, mở rộng: nhãn, vải, chôm chôm, xoài, cà phê, chanh bưởi, dừa, keo tràm, cỏ hoa dại, rau dền, húng, rau má. Hoa ống sâu như dâm bụt, hoa loa kèn thì ong dú khó với tới mật, chỉ lấy được phấn ở nhị.
Phấn là thứ quyết định đàn có lớn được hay không. Ấu trùng ong dú không được ong thợ đút ăn từng bữa như ong mật. Ong thợ đổ sẵn hỗn hợp phấn và mật vào ô ấu trùng, chúa đẻ trứng lên trên rồi ô được đóng lại. Ấu trùng ăn hết khẩu phần đó rồi lớn lên trong ô kín. Vì thế, mỗi ô ấu trùng mới cần một lượng phấn có sẵn. Không có phấn, chúa không có chỗ để đẻ.
Phấn ong mang về được cất trong bầu phấn, cũng bằng sáp-keo, thường nằm xen hoặc gần bầu mật, ở rìa đĩa ấu trùng. Phấn trong bầu lên men nhẹ, có vị chua, có người gọi là «phấn chua».
Ngô, lúa đang trổ, dừa, chuối, các loại cỏ, mai dương, keo, bạch đàn, cây họ bầu bí. Dừa và chuối rất quý vì ra hoa gần như quanh năm. Lúa và ngô cho nhiều phấn nhưng chỉ trong thời gian ngắn và thường kèm thuốc phun, nên đừng trông cậy.
Ong dú không xây tổ bằng sáp nguyên chất như ong mật. Chúng tiết một ít sáp rồi trộn với nhựa cây thành cerumen, tức sáp-keo, để làm bầu mật, bầu phấn, đĩa ấu trùng. Phần keo đặc hơn, nhiều nhựa hơn, dùng để bít khe, đắp ống cửa, trát vách. Nhựa còn giúp tổ chống nấm mốc và chống kiến bò vào cửa, nhờ độ dính.
Ong lấy nhựa ở chỗ cây bị trầy xước, vết cắt cành, nhựa ứa trên thân xoài, điều, mít, dầu rái, thông, bạch đàn, tràm. Ở phố thiếu cây, có khi thấy ong dú bu vào sơn chưa khô, nhựa đường mềm, keo dán. Đó là dấu hiệu vùng thiếu nhựa cây.
| Thấy gì ở ong về | Đó là gì | Nói lên điều gì |
|---|---|---|
| Cục màu vàng, cam, trắng, xám ở chân sau, bề mặt mờ như bột nén | Phấn hoa | Đàn đang nuôi con; nhiều ong mang phấn là tốt |
| Cục bóng, trong, màu hổ phách, nâu hoặc gần đen ở chân sau, nhỏ hơn cục phấn | Nhựa cây | Đàn đang xây sửa, đắp ống cửa, trám khe; thường thấy sau khi tổ bị động |
| Chân không mang gì, bụng hơi căng, bay vào chậm | Mật hoa hoặc nước | Bình thường; ngày nóng thì phần lớn là nước |
| Hạt đất, mùn rất nhỏ ở chân | Đất sét, mùn | Một số loài trộn đất vào keo; không đáng lo |
| Ong ra nhiều nhưng ít con mang gì về | Đi tìm mà không có | Vùng đang cạn hoa, hoặc trời vừa mưa |
Ong dú cần nước để pha loãng mật đặc cho ấu trùng và để làm mát tổ ngày nóng: ong mang nước về, rải mỏng rồi quạt cho bay hơi. Mùa khô ở phía Nam hay đợt nắng gắt miền Bắc, nếu quanh tổ vài trăm mét không có chỗ uống, ong phải bay xa, tốn sức. Đặt một khay nước nông cách tổ vài mét, bỏ sỏi hoặc lá cây nổi để ong đậu khỏi chết đuối, thay nước vài ngày một lần.
Không có con số chuẩn cho mọi đàn, vì loài, mùa và vườn khác nhau. Cái quan trọng là so với chính đàn đó ở các tuần trước, hoặc so với một đàn khác đặt cạnh.
Muốn hiểu thêm vì sao đàn cần đủ ba thứ này theo từng giai đoạn, đọc thêm mục Kiến thức nền về ong dú.
Sáng mai trời nắng, ra cửa tổ đếm 20 con ong về và ghi lại số con mang phấn, số con mang nhựa. Đi quanh nhà xem trong vài trăm mét có cây nào đang ứa nhựa, có chỗ nước nào cho ong uống không. Nếu thiếu, trồng thêm một hai cây cho nhựa (xoài, mít) và đặt khay nước. Một tháng sau đếm lại, so sánh.
Có thể ăn nước đường như nguồn năng lượng tạm thời, nhưng đường không có đạm nên không thay được phấn hoa. Chỉ nên cho khi đàn cạn mật thật sự, theo hướng dẫn người có kinh nghiệm.
Tuỳ vùng, nhưng dừa, chuối, ngô, cỏ hoa dại, keo và các cây ăn trái thường là nguồn phấn quan trọng. Nhà có dừa hoặc chuối là lợi thế lớn vì hai cây này ra hoa gần như quanh năm.
Đó là ong đi tìm nhựa để làm keo xây tổ. Hiện tượng này thường gặp ở nơi thiếu cây có nhựa. Trồng thêm xoài, mít hoặc để lại vài cây có vết nhựa sẽ bớt.
Có, nhất là mùa khô. Ong dùng nước pha mật cho ấu trùng và làm mát tổ. Một khay nước nông có sỏi cách tổ vài mét là đủ.
Phấn ong dú được nhiều người dùng làm thực phẩm, có vị chua nhẹ do lên men. Nên lấy ít, chỉ lấy ở đàn mạnh, vì đó là thức ăn nuôi con của đàn. Người có tiền sử dị ứng phấn hoa nên thận trọng.
Có thể, nhưng cũng có thể do vùng đang cạn phấn hoặc trời xấu. Nếu nhiều ngày nắng liền, đàn bên cạnh vẫn mang phấn mà đàn này không, mới nên mở xem có ấu trùng mới không.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →
Ong dú nuôi ở Việt Nam chủ yếu thuộc vài nhóm: ong dú đen nhỏ, ong dú cửa phễu và vài loài to con; nhận biết qua cỡ con, màu thân và hình ụ cửa tổ.
Ong dú không xây bằng sáp thuần như ong mật. Vật liệu chúng dùng giải thích vì sao tổ khó sửa và vì sao cần nhựa cây quanh vườn.
Với nhiều nhà vườn, giá trị lớn nhất của ong dú không nằm trong hũ mật mà nằm ở tỷ lệ đậu trái của khu vườn.
Đàn ong không phát triển đều đặn mà lên xuống theo mùa. Hiểu nhịp đó là hiểu toàn bộ lịch làm việc của người nuôi.
Hiểu đàn ong phân công thế nào giúp đọc được tình trạng đàn chỉ bằng cách đứng nhìn cửa tổ.
Hiểu con ong trước khi nuôi nó. Vài điểm căn bản giải thích được gần hết những gì bạn sẽ gặp sau này.
Trục đào tạo: dạy nuôi ong dú cho người chưa biết gì, theo lộ trình từ tổ đầu tiên tới trại nhỏ. Bao gồm sách, khoá học, tài liệu, các lỗi người mới hay mắc. Giọng văn kiên nhẫn, giải thích từ gốc, không giả định người đọc biết thuật ngữ.