
Ở Việt Nam, ong dú được nuôi chủ yếu thuộc vài nhóm loài nhỏ: nhóm ong dú đen cỡ nhỏ (thường xếp vào chi Tetragonula), nhóm ong dú có ụ cửa loe như phễu (chi Lepidotrigona) và một số loài to con hơn ít gặp. Chúng khác nhau ở cỡ con, dáng cửa tổ, tính hiền và cách trữ mật, nên trước khi mua tổ, câu đầu tiên cần hỏi là «đàn này loài gì».
Người mới thường nghĩ ong dú là một loài duy nhất, giống như nói «gà» mà không phân biệt gà ta với gà công nghiệp. Thực tế, mỗi nhóm ong dú có nhịp sống riêng. Có nhóm xây khối nhộng xếp tầng gọn, dễ tách; có nhóm xây rời rạc, khó tách hơn. Có nhóm trữ nhiều bầu mật to, có nhóm trữ ít, bầu nhỏ. Có nhóm gần như không phản ứng khi mở tổ, có nhóm bám tóc dày đặc.
Nếu không biết mình đang nuôi gì, người mới sẽ áp cách làm đọc được trên mạng mà không biết cách đó viết cho loài khác. Kết quả hay gặp là chọn thùng sai cỡ, tách quá sớm, hoặc thất vọng vì đàn «không ra mật» trong khi loài đó vốn trữ ít.
Bảng dưới là cách nhìn tổng quát cho người mới, không thay cho việc định loài của người có chuyên môn. Tên khoa học được nêu để tiện tra cứu thêm; tên dân gian thì mỗi vùng gọi mỗi khác.
| Nhóm | Cỡ con, màu | Ụ cửa thường thấy | Đặc điểm khi nuôi |
|---|---|---|---|
| Ong dú đen nhỏ (thường thuộc chi Tetragonula) | Rất nhỏ, thân đen hoặc nâu đen | Cửa nhỏ, ống ngắn hoặc chỉ là lỗ viền keo | Phổ biến, hiền, thích nghi rộng, hợp người mới |
| Ong dú cửa phễu (thường thuộc chi Lepidotrigona) | Nhỏ, thân có thể pha vàng hoặc nâu nhạt | Ống loe như phễu, thành mỏng, có thể dính | Ụ cửa đẹp, dễ nhận; cần chỗ đặt ổn định |
| Các loài to con hơn (vài chi khác) | Lớn hơn hẳn hai nhóm trên | Đa dạng, có loài ụ cửa to, nhiều nhựa | Ít gặp ở trại nhỏ; nhiều loài tự vệ mạnh hơn, nên có kinh nghiệm mới nuôi |
Trong mỗi nhóm lại có nhiều loài. Ngay cả người nuôi lâu năm cũng thường chỉ nói chắc được đến mức nhóm, còn định đúng loài phải nhìn kỹ dưới kính lúp hoặc nhờ người làm nghiên cứu.
Bắt một con ong ra vào ở cửa tổ đặt lên tờ giấy trắng (không cần giữ, ong tự bò). So với hạt gạo: nhóm nhỏ thì ngắn hơn hạt gạo khá nhiều, nhóm to con có thể dài ngang hoặc hơn. Nhìn thêm màu ngực, màu bụng, có vệt sáng hay không.
Đây là dấu hiệu dễ nhất. Ụ cửa ngắn, sẫm, mép gọn hay ống loe dài, mỏng, sáng màu cho biết khá nhiều về nhóm loài. Chụp ảnh ụ cửa ở cùng một góc qua vài tuần còn giúp theo dõi sức đàn.
Nếu được mở tổ xem: khối nhộng xếp thành đĩa tầng hay thành cụm rời; bầu mật to hay nhỏ, nằm gọn một phía hay rải khắp; vỏ bọc dày hay mỏng. Những điểm này quyết định thùng nên làm kiểu gì và tách ra sao.
Không có loài «tốt nhất» chung cho mọi nơi. Loài hợp nhất là loài đang sống khỏe ở chính vùng mình, vì đã quen khí hậu và nguồn hoa ở đó. Mang một loài từ vùng xa về nuôi, đàn có thể sống nhưng thường yếu hơn, và người mới khó phân biệt lỗi do mình hay do khí hậu.
Muốn hiểu kỹ hơn về cấu trúc đàn trước khi chọn, chuyên mục Kiến thức nền về ong dú có các bài nói về vòng đời và vật liệu xây tổ.
Người bán có nghề thường trả lời được ngay và rõ. Câu trả lời mập mờ ở câu số 2 là tín hiệu nên dừng lại.
Trại Ong Quý ở vùng Trảng Bàng, Tây Ninh nuôi các đàn ong dú quen với nắng nóng miền Nam và luôn nhân đàn bằng tách, không lấy tổ rừng. Người mới ở các vùng khí hậu tương tự có thể tham khảo tổ giống và mật ong dú của trại tại Ong Quý. Nếu muốn đối chiếu nhiều nguồn tổ giống trước khi chọn, chợ ong dú là chỗ xem được nhiều người bán ở các vùng khác nhau; nhớ hỏi đủ năm câu ở trên.
Có nhiều loài, thuộc một số chi khác nhau, và việc định loài vẫn đang được giới nghiên cứu bổ sung. Người nuôi thường chỉ cần phân biệt ở mức nhóm và biết loài nào phổ biến, hợp với vùng mình.
Ở nhiều nơi, «ong muỗi» là tên dân gian chỉ các loài ong dú rất nhỏ. Tuy nhiên tên gọi khác nhau theo vùng, nên nên hỏi rõ người nói đang chỉ loài nào, xem cả con ong và ụ cửa.
Không nên. Nuôi một loài trước giúp người mới nhận ra nhịp bình thường của đàn. Khi đã quen một loài qua ít nhất một năm, việc thêm loài thứ hai sẽ dễ hơn nhiều.
Đàn tách thường nằm trong thùng gỗ chuẩn, khối nhộng gọn, có ghi ngày tách. Đàn bắt rừng hay còn trong khúc gỗ, hốc cây cưa ra, ụ cửa nguyên dạng tự nhiên. Hỏi thẳng và xin ảnh trại của người bán.
Lượng mật phụ thuộc vào cả loài, sức đàn, nguồn hoa và cách chăm, nên khó so chung. Với người mới, chọn loài khỏe ở vùng mình quan trọng hơn chạy theo loài được quảng cáo nhiều mật.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Ong dú sống nhờ ba thứ: mật hoa cho sức bay, phấn hoa nuôi ấu trùng, nhựa cây để xây tổ. Cách nhìn cửa tổ biết ong đang mang gì về và đàn đang thiếu t
Ong dú không xây bằng sáp thuần như ong mật. Vật liệu chúng dùng giải thích vì sao tổ khó sửa và vì sao cần nhựa cây quanh vườn.
Với nhiều nhà vườn, giá trị lớn nhất của ong dú không nằm trong hũ mật mà nằm ở tỷ lệ đậu trái của khu vườn.
Đàn ong không phát triển đều đặn mà lên xuống theo mùa. Hiểu nhịp đó là hiểu toàn bộ lịch làm việc của người nuôi.
Hiểu đàn ong phân công thế nào giúp đọc được tình trạng đàn chỉ bằng cách đứng nhìn cửa tổ.
Hiểu con ong trước khi nuôi nó. Vài điểm căn bản giải thích được gần hết những gì bạn sẽ gặp sau này.
Trục đào tạo: dạy nuôi ong dú cho người chưa biết gì, theo lộ trình từ tổ đầu tiên tới trại nhỏ. Bao gồm sách, khoá học, tài liệu, các lỗi người mới hay mắc. Giọng văn kiên nhẫn, giải thích từ gốc, không giả định người đọc biết thuật ngữ.