Đàn ong dú không phát triển đều đặn mà lên xuống theo mùa hoa. Hiểu nhịp đó là hiểu toàn bộ lịch làm việc của người nuôi.
| Giai đoạn | Đàn làm gì | Người nuôi làm gì |
|---|---|---|
| Phục hồi | Sau quãng thắt, tăng quân số trở lại | Đánh giá đàn, chuẩn bị |
| Bung sức | Quân đông, tích mật nhanh | Tách đàn |
| Tích trữ | Đầy hũ mật, chuẩn bị cho mùa khó | Thu mật, rồi ngừng can thiệp |
| Quãng thắt | Ăn vào dự trữ, quân số giảm | Không làm gì, chỉ quan sát |
Bốn giai đoạn này lặp lại mỗi năm, nhưng rơi vào tháng nào thì khác nhau theo vùng.
Sau quãng thắt, đàn bắt đầu tăng quân trở lại khi có hoa. Đây là giai đoạn đàn còn yếu và cần yên.
Việc nên làm: đánh giá xem đàn nào qua quãng thắt tốt, đàn nào cần cứu. Việc không nên: tách đàn khi đàn chưa hồi phục hẳn.
Mùa hoa chính. Quân số đông nhất, tích mật nhanh nhất, và đây là cửa sổ tách đàn duy nhất ở nhiều vùng.
Nguyên tắc:
Sau đỉnh mùa hoa, đàn chuyển sang tích dự trữ cho mùa khó sắp tới. Hũ mật đầy nhất trong năm ở giai đoạn này.
Đây là chỗ dễ sai nhất: hũ đầy nên rất muốn thu mật. Nhưng phần mật đó chính là thứ đàn cần cho quãng thắt ngay sau.
Nguyên tắc: thu mật ở đầu giai đoạn này nếu đàn thật mạnh, và ngừng hẳn trước khi quãng thắt tới ít nhất một tháng.
Giai đoạn khó nhất, và rơi vào tháng khác nhau tuỳ vùng:
Trong giai đoạn này đàn ăn vào dự trữ và quân số giảm dần — đó là chuyện bình thường, không phải dấu hiệu bệnh.
Nguyên tắc: không tách, không lấy mật, hạn chế mở tổ, chỉ quan sát từ ngoài và bảo đảm che chắn cùng chống kiến.
Không hiểu nhịp mùa thì mỗi lần đàn chững lại là một lần lo lắng và can thiệp không cần thiết. Hiểu rồi thì biết: tháng này năm nào đàn cũng vậy.
Cửa sổ tách đàn ở nhiều vùng chỉ mở một lần mỗi năm. Bỏ lỡ là mất trọn một mùa nhân đàn.
Đây là lỗi gây mất đàn phổ biến nhất — thu mật ngay trước quãng thắt, khi hũ nhìn đầy nhất.
Ghi chép một vòng năm:
Sau một năm, đối chiếu là ra nhịp riêng của vườn mình — chính xác hơn mọi khung chung.
Bốn giai đoạn lặp lại: phục hồi sau quãng thắt, bung sức trong mùa hoa chính, tích trữ chuẩn bị cho mùa khó, rồi quãng thắt khi ăn vào dự trữ. Bốn giai đoạn này rơi vào tháng nào thì khác nhau theo vùng.
Tuỳ vùng: Đông Nam Bộ vào cuối mùa khô khi cao su rụng lá, Tây Nguyên vào giữa và cuối mùa khô, miền Tây vào mùa mưa nhiều và nước nổi, miền Trung vào mùa bão, miền Bắc vào mùa rét.
Không. Ăn vào dự trữ và quân số giảm dần trong quãng thắt là chuyện bình thường của nhịp mùa. Hiểu điều này thì không can thiệp không cần thiết mỗi lần thấy đàn chững lại.
Thu mật ngay trước quãng thắt, khi hũ nhìn đầy nhất. Nhưng phần mật đó chính là thứ đàn cần để đi qua quãng khó ngay sau đó, nên đây là lỗi gây mất đàn phổ biến nhất.
Ghi chép một vòng năm: tháng nào cây gì nở quanh nhà, tháng nào hũ mật đầy nhanh tháng nào vơi, tháng nào lưu lượng ong ra vào nhiều nhất. Sau một năm đối chiếu là ra nhịp riêng, chính xác hơn mọi khung chung.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Ong dú sống nhờ ba thứ: mật hoa cho sức bay, phấn hoa nuôi ấu trùng, nhựa cây để xây tổ. Cách nhìn cửa tổ biết ong đang mang gì về và đàn đang thiếu t
Ong dú nuôi ở Việt Nam chủ yếu thuộc vài nhóm: ong dú đen nhỏ, ong dú cửa phễu và vài loài to con; nhận biết qua cỡ con, màu thân và hình ụ cửa tổ.
Ong dú không xây bằng sáp thuần như ong mật. Vật liệu chúng dùng giải thích vì sao tổ khó sửa và vì sao cần nhựa cây quanh vườn.
Với nhiều nhà vườn, giá trị lớn nhất của ong dú không nằm trong hũ mật mà nằm ở tỷ lệ đậu trái của khu vườn.
Hiểu đàn ong phân công thế nào giúp đọc được tình trạng đàn chỉ bằng cách đứng nhìn cửa tổ.
Hiểu con ong trước khi nuôi nó. Vài điểm căn bản giải thích được gần hết những gì bạn sẽ gặp sau này.
Trục đào tạo: dạy nuôi ong dú cho người chưa biết gì, theo lộ trình từ tổ đầu tiên tới trại nhỏ. Bao gồm sách, khoá học, tài liệu, các lỗi người mới hay mắc. Giọng văn kiên nhẫn, giải thích từ gốc, không giả định người đọc biết thuật ngữ.